Đêm thứ 39 tại khu trại, Manuel Ranoque thực hiện nghi lễ uống trà thiêng “yagé” của người bản địa Amazon, nhằm “khai mở nhãn lực” tìm đám trẻ.

Đêm 8/6, nhóm thổ dân mệt mỏi tụ hợp ở khu lán trại, xung quanh là cây cối cao vút và thảm thực vật dày đặc giữa rừng già Amazon. Họ cùng các binh sĩ Colombia đã liên tục tìm kiếm 4 em bé bị lạc trong rừng suốt 39 ngày, kể từ khi chiếc máy bay chở các em gặp nạn hôm 1/5.

Ngày thứ 40 là thời điểm then chốt, khi toàn bộ nhóm tìm kiếm đã quá mệt mỏi sau nhiều tuần lùng sục trong vô vọng. Họ cảm nhận Thần Rừng chưa sẵn lòng giúp tìm thấy 4 đứa trẻ mất tích.

Một binh sĩ Colombia đứng cạnh máy bay rơi trong rừng Amazon ngày 18/5. Ảnh: AP

Một binh sĩ Colombia đứng cạnh máy bay rơi trong rừng Amazon ngày 18/5. Ảnh: AP

Các tình nguyện viên thổ dân và binh sĩ quân đội Colombia đã phát hiện nhiều dấu vết đem lại hy vọng như bình nước trẻ em, trái cây ăn dở, tã bẩn. Nhưng mưa to không ngớt, địa hình khắc nghiệt và thời gian cứ trôi nhanh khiến họ cạn kiệt tinh thần, sức lực.

Các thổ dân tin rằng khi cơ thể, thần trí và niềm tin trở nên suy yếu, họ sẽ không thể tìm thấy đám trẻ trong khu rừng. Bởi vậy, đêm hôm đó, Manuel Ranoque, bố của bé ba và bé út, quyết định thực hiện yagé, một trong những nghi thức thiêng liêng nhất của thổ dân Amazon.

Đây là nghi lễ pha chế một loại trà đắng làm từ ayahuasca, một loại nho dại mọc trong rừng Amazon, cùng cây bụi chacruna. Suốt nhiều thế kỷ, loại trà thảo mộc có tác dụng gây ảo giác này đã được người dân Colombia, Peru, Ecuador và Brazil sử dụng như một phương pháp chữa trị mọi bệnh tật.

Henry Guerrero, tình nguyện viên tham gia cuộc tìm kiếm, cho biết dì của ông đã chuẩn bị yagé cho nhóm. Họ tin rằng món đồ uống này sẽ khai mở nhãn lực dẫn họ tới chỗ đám trẻ.

“Tôi bảo họ, ‘Không thể làm gì trong khu rừng này. Chúng ta không thể tìm thấy lũ trẻ bằng mắt thường. Biện pháp cuối cùng là yagé'”, Guerrero, 56 tuổi, nói. “Chuyến đi diễn ra trong thời khắc đặc biệt, có gì đó vô cùng thiêng liêng”.

Sau khi nhóm thổ dân chuẩn bị xong yagé, Ranoque nhấp một ngụm trà, còn những người khác theo dõi anh suốt vài giờ sau đó.

Đêm khuya, họ thất vọng khi Ranoque nói rằng nghi thức không có tác dụng. Họ thu dọn đồ đạc, chuẩn bị rút khỏi khu rừng vào sáng hôm sau.

Nhưng trước khi họ lên đường vào sáng sớm 9/6, già làng José Rubio quyết định uống nốt phần yagé còn lại, tin rằng nó sẽ giúp ông tìm ra lũ trẻ.

Rubio bỗng nhiên rơi vào trạng thái mơ màng, đôi lúc nôn ọe vì tác dụng phụ của trà hướng thần. Lần này, ông nói món trà đã có tác dụng. Rubio tin nhãn lực của ông đã được khai mở, giúp nhìn thấy lũ trẻ và nói với Guerrero: “Chúng ta sẽ tìm ra bọn trẻ trong hôm nay”.

Yagé, trà thảo mộc làm từ cây nho ayahuasca (Banisteriopsis caapi) và cây bụi chacruna (Psychotria viridis), có tác dụng hướng thần. Ảnh: Wikipedia

Yagé, trà thảo mộc làm từ cây nho ayahuasca (Banisteriopsis caapi) và cây bụi chacruna (Psychotria viridis), có tác dụng gây ảo giác. Ảnh: Wikipedia

4 đứa trẻ gồm Lesly, Soleiny, Tien và Cristin lớn lên ở Araracuara, ngôi làng nhỏ trong rừng Amazon thuộc vùng hẻo lánh ở miền nam Colombia, nơi chỉ có thể tiếp cận bằng thuyền hoặc máy bay nhỏ. Ranoque cho hay đám trẻ sống vui vẻ, độc lập vì anh và vợ, Magdalena Mucutui, thường xuyên vắng nhà.

Lesly, 13 tuổi, già dặn ít nói. Soleiny, 9 tuổi, ham chơi. Tien, gần 5 tuổi trước khi gặp nạn, vô cùng hiếu động. Cristin, khi mất tích mới 11 tháng tuổi và đang tập đi.

Ở nhà, Magdalena Mucuti trồng hành và sắn, dùng sắn để chế biến thành bột làm lương thực cho gia đình và đem bán. Lesly học nấu ăn từ năm 8 tuổi. Mỗi khi bố mẹ vắng nhà, cô bé sẽ chăm sóc các em.

Sáng 1/5, 4 đứa trẻ cùng mẹ và một ông chú lên máy bay hạng nhẹ tới thị trấn San José del Guaviare. Vài tuần trước, Ranoque đã rời khỏi ngôi làng nằm giữa nơi có nhiều nhóm phiến quân và các đồn điền ma túy đã tồn tại nhiều thập kỷ. Ranoque cho hay anh chịu sức ép từ một số người liên quan đến hoạt động bất hợp pháp này, nhưng từ chối cung cấp chi tiết.

“Công việc ở đó không an toàn”, Ranoque nói. “Nó cũng trái phép, liên quan tới những người khác trong lĩnh vực tôi không thể nói vì sẽ đặt bản thân vào nguy hiểm lớn hơn”.

Ranoque cho hay trước khi rời khỏi làng, anh đã để lại cho vợ 9 triệu peso (2.695 USD) để mua thức ăn, nhu yếu phẩm và trả tiền đi máy bay. Anh muốn đám trẻ rời khỏi làng vì lo sợ các con bị những nhóm phiến quân trong vùng chiêu mộ.

5 mẹ con đang trên đường tới gặp Ranoque thì phi công chiếc máy bay hạng nhẹ Cessna thông báo tình huống khẩn cấp vì hỏng động cơ. Máy bay biến mất khỏi màn hình radar ngày 1/5.

Quân đội Colombia tìm kiếm và sau 10 ngày không tìm thấy máy bay cũng như dấu hiệu của các nạn nhân, nhóm thổ dân quyết định tham gia. Họ quen thuộc với rừng rậm Amazon cũng như các gia đình trong khu vực. Một thổ dân cho hay đã nghe thấy tiếng động cơ khi chiếc Cessna bay qua nhà anh. Thông tin này giúp họ vạch kế hoạch tìm kiếm men theo sông Apaporis.

Các binh sĩ và thổ dân cày xới khắp khu rừng, bất chấp nhiều hiểm nguy rình rập. Một người suýt bị cành cây làm mù mắt. Những người khác bắt đầu xuất hiện triệu chứng dị ứng và cúm, nhưng họ vẫn tiếp tục.

Trước đây, quân đội và các nhóm thổ dân từng thù hận nhau, nhưng ở trong rừng sâu, họ chia sẻ thức ăn, nước uống, điện thoại vệ tinh, thiết bị định vị GPS và cả hy vọng.

16 ngày sau vụ tai nạn, khi tinh thần ai cũng xuống thấp, họ tìm thấy xác chiếc máy bay cắm mũi xuống nền rừng. Họ cho rằng điều tồi tệ nhất đã xảy ra khi tìm thấy thi thể người bên trong. Guerrero cho biết ông và những người khác bắt đầu dỡ trại. Nhưng một người đàn ông bước đến gần máy bay xem xét bỗng lên tiếng: “Này, tôi không nhìn thấy thi thể đám trẻ”.

Guerrero tới gần máy bay và nhận thấy một số đồ vật xuất hiện như thể có ai đó đã kéo chúng ra ngoài sau vụ va chạm.

Thi thể ba người lớn được đưa ra từ trong máy bay, nhưng không có trẻ con, cũng không có dấu hiệu nào cho thấy lũ trẻ bị thương nặng. Lực lượng tìm kiếm thay đổi chiến thuật, dựa vào những bằng chứng cho thấy lũ trẻ còn sống. Họ không di chuyển im lặng trong rừng vì lo ngại phiến quân như trước đây nữa.

“Chúng ta sẽ chuyển sang giai đoạn hai”, thượng sĩ Juan Carlos Rojas Sisa nói. “Chúng ta sẽ dùng phương thức tìm kiếm ồn ào nhất có thể để các cháu nghe thấy”.

Họ hú gọi tên Lesly và phát đi thông điệp ghi âm của bà ngoại đám trẻ bằng tiếng Tây Ban Nha và ngôn ngữ của người Huitoto, yêu cầu chúng ở yên tại chỗ. Trực thăng thả thực phẩm và tờ rơi xuống khu rừng. Quân đội cũng đem theo chó nghiệp vụ, trong đó có Wilson, chó béc giê Bỉ, con vật đã tìm ra bình sữa của đám trẻ trước khi mất tích trong rừng.

Gần 120 binh sĩ và hơn 70 thổ dân tìm kiếm 4 đứa trẻ cả ngày lẫn đêm. Họ dính còi trên cây để lũ trẻ sử dụng nếu nhìn thấy, sử dụng tổng cộng 11 km dây chuyên dụng để đánh dấu những vùng đã tìm kiếm, hy vọng đám trẻ nhận ra đó là dấu hiệu cần ở yên một chỗ.

Họ tiếp tục phát hiện manh mối của đám trẻ, trong đó có dấu chân được cho là của Lesly, nhưng không ai tìm thấy chúng. Một số người đã đi bộ quãng đường tổng cộng hơn 1.500 km trong quá trình tìm kiếm.

Nhiều binh sĩ kiệt sức và quân đội buộc phải thay người. Đó là lúc Guerrero gọi điện về làng, đề nghị dì chuẩn bị trà yagé. Hai ngày sau, trà được các binh sĩ mang tới nơi.

Vào ngày thứ 40, sau khi già làng Rubio uống yagé, họ lại rà soát khắp khu rừng, bắt đầu từ địa điểm phát hiện chiếc tã. Tuyên bố của Rubio giúp họ khơi dậy hy vọng, nhưng ông không thể chỉ ra vị trí cụ thể. Các nhóm tản ra nhiều hướng nhưng thời gian trôi qua, họ trở lại khu trại, không có tin gì mới.

“Không có gì cả. Chúng tôi không tìm thấy gì”, Guerrero buồn bã nói với Ranoque khi các nhóm trở lại.

Nhưng nỗi buồn lập tức biến mất khi một binh sĩ thông báo qua bộ đàm rằng đã tìm thấy 4 đứa trẻ ở chỗ cách máy bay rơi 5 km, tại một mảnh rừng tương đối quang đãng. Các nhóm cứu hộ nhiều lần đi qua mảnh rừng này nhưng không thấy các em.

“Họ tìm thấy cả 4 cháu rồi”, binh sĩ nói với Guerrero, vừa khóc vừa ôm lấy ông.

4 chị em được tìm thấy ở nơi cách hiện trường máy bay rơi khoảng 5 km ngày 9/6. Ảnh: AP

4 chị em được tìm thấy ở nơi cách hiện trường máy bay rơi khoảng 5 km ngày 9/6. Ảnh: AP

Khi được tìm thấy, Lesly đã ở trạng thái gần như mê sảng và không thể đi tiếp. Các em của Lesly cũng kiệt sức và suy dinh dưỡng nặng, tay chân đầy vết trầy xước và côn trùng cắn.

Lực lượng tìm kiếm nhanh chóng sơ cứu và ủ ấm cho đám trẻ, rồi gọi trực thăng đưa chúng ra khỏi khu rừng rậm rạp. Các em được đưa tới San José del Guaviare, sau đó chuyển bằng máy bay quân y tới bệnh viện ở thủ đô Bogota, nơi y bác sĩ đang chờ sẵn.

Giới chức Colombia, chuyên gia y tế, quân đội và nhiều người ca ngợi tài lãnh đạo của Lesly. Tướng Pedro Sanchez, người phụ trách chiến dịch tìm kiếm, cho hay chị cả Lesly đã nuôi em út bằng cách nhai nát trái cây, trộn trong hộp cùng một ít nước để em ăn.

Cô bé và ba em trở thành biểu tượng của sự kiên cường và bài học sinh tồn trên toàn cầu. Chính phủ Colombia tự hào về sự hợp tác giữa các cộng đồng thổ dân và quân đội trong lúc nỗ lực xóa bỏ xung đột quốc gia.

“Rừng đã cứu các cháu”, Tổng thống Gustavo Petro nói. “Các cháu là con của rừng và bây giờ cũng là con của đất nước Colombia”.

Ranoque thừa nhận lời của Tổng thống Petro, nhưng nói thêm văn hóa và các nghi thức tâm linh của thổ dân đã cứu các con. “Đó là thế giới tâm linh”, anh nói, nhắc đến yagé như một nghi thức được tôn thờ nhất của người bản địa ở Amazon. “Chúng tôi uống trà trong rừng để lũ yêu tinh thả các con tôi ra”.